|
|
| |||
Trần Mỹ Duyệt Tháng Năm 1962, trên chiếc xe thổ mộ từ chợ Thủ Đức vào Dòng Đồng Công. Lần đầu tiên được ngồi trên một chiếc xe do ngựa kéo, đây là một cảm giác rất lạ. Tiếng chân ngựa lóc cóc ghõ nhẹ trên mặt đường, cộng thêm tiếng ve sầu kêu đâu đó dưới những tàng cây hai bên đường làm mình chợt thấy bâng khuâng và một nỗi buồn len lén tâm tư mà cho đến nay cũng không sao diễn tả được. Chuyến đi đã ảnh hưởng có thể nói là toàn cuộc đời mình. Âm hưởng nó vẫn còn theo và chắc chắn sẽ theo mình đến cuối cuộc đời. Rồi mình được nhận vào đội Magnificat, tiền thân của Đệ Tử Viện Đồng Công sau này. Cũng từ ngày ấy, cuộc đời đã có những đổi mới rất đặc biệt. Những tháng ngày ở Đệ Tử Viện qua mau, tiếp đến là được đổi tên để vào Thỉnh Viện, rồi Tập Viện, những năm hạn thệ và vĩnh thệ. Mùa Hè 1969, mình lại được gọi về Đệ Tử Viện phục vụ các em đệ tử sinh. Thời gian phục vụ kéo dài cho đến biến cố Tháng Tư Đen 1975 để theo anh em Dòng ra đi và đến Hoa Kỳ, bỏ lại sau lưng tất cả quê hương, gia đình và mọi người thân yêu, trong đó có những người bạn cùng lớp. Cuộc sống mới, môi trường mới tạo nên cái nhìn mới. Không biết cuộc sống mới đã làm mình thay đổi hay chính tự mình đã thay đổi. Và không biết việc thay đổi này tốt hay xấu, nhưng đã có sự thay đổi. Mùa Hè 1978, mình đã quyết định rời khỏi môi trường và những người anh em thân yêu để bước vào một cuộc viễn du mới. Cuộc hành trình rẽ hướng này đã dẫn mình vào những chân trời hoàn toàn khác lạ, mà trước đó không bao giờ nghĩ tới. Trong những gọi mời, trong những hoặch định cho tương lai, mình đã được đề nghị trở thành linh mục cho một số địa phận, nhưng rồi mình lại chọn con đường của một Kitô hữu sống đời hôn nhân gia đình. Cho đến bây giờ, nhiều lúc ngồi suy nghĩ lại, mình cũng không biết và không phân biệt được những ngả đường đã đi qua đó tốt hay xấu như thế nào. Nhưng một điều làm mình cảm thấy an ủi là trước mọi thử thách và yếu đuối, mình đã cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời mình. Ngài đang đồng hành với mình. Bên cạnh sự hiện diện của Chúa, là Mẹ Maria Đồng Công. Mẹ cũng có mặt và ở bên mình trong mọi biến cố lớn nhỏ của đời mình. Mẹ Đồng Công. Người mà mình đã tận hiến lần đầu hơn 40 năm trước khi bước chân vào Thỉnh Viện, và trang trọng hơn ngày vào Tập Viện. Nhìn lại từ giây phút ấy, đời mình luôn luôn là một chuỗi những biến đổi, và những biến đổi ấy đã đem lại cho mình tình mến, ý thức và trưởng thành hơn về tình yêu và sự tín thác nơi Mẹ, mặc dù vẫn có những thử thách đôi lúc làm mình ngã lòng và hoang mang sợ hãi. Mẹ Đồng Công. Chất keo gắn bó mình với những sinh hoạt của anh em cùng lớp học, lớp Thử, lớp Tập, và lớp Khấn. Sự gắn bó này cũng còn là mối giây liên kết buộc chặt mình với sinh hoạt của Dòng, cho phép mình được gọi mọi phần tử của Dòng là “anh” xưng “em”, và ngược lại, cũng được mọi linh mục, tu sĩ của Dòng gọi mình là “anh” và xưng “em”. Từ ngữ và lối xưng hô này là một nét đẹp hiếm quí trong sinh hoạt và đời sống của Dòng. Nó không ngừng lại ở những thay đổi dù tiếp tục hay chuyển hướng ơn gọi của một người. Dù còn ở lại hay đã hồi tục, mọi phần tử đã có một lần tận hiến, một lần vào Thỉnh Viện, Tập Viện hay tuyên khấn đều gắn bó và liên kết với nhau bằng chất keo Đồng Công qua ý nghĩa và lối xưng hô ấy. Và nó đã cho phép mình sau hơn 25 năm xa cách, vẫn không cảm thấy xa lạ đối với anh em Dòng, cũng như không xa lạ đối với những anh em thân hữu. Một hình ảnh thấm đậm mãi trong ký ức, đã làm mình cảm thấy xúc động nghẹn ngào là hình ảnh linh mục Trần Công Lý, người thầy khả kính của lớp Đệ Tam. Anh Lý đã đến thăm mình với nụ cười và thái độ ân cần của một người anh và của một bậc thầy. Anh đến thăm mình với cây gậy trong tay vì anh vừa trải qua một cơn stroke nhẹ. Việc có mặt của anh và tình cảm quí mến ấy cho đến giờ này mình vẫn còn nhớ rất rõ. Đây là lần thăm viếng trước nhất và sau hết, vì chẳng bao lâu sau đó, anh đã từ giã cõi đời để về Nhà Cha. Nhớ hơn nữa là linh mục Đỗ Duy Lạn (Triều), người anh em cùng lớp. Triều đã hồi tục và mình cũng đã hồi tục. Triều trở về để làm linh mục cho Tổng Giáo Phận Sàigon. Suốt 50 năm tranh đấu, sống dưới những khó khăn của thời cuộc, Triều mới chịu chức được 4 năm, nhưng Chúa đã cất Triều về trong một tai nạn xe hơi sau Phục Sinh 2004. Lần gặp gỡ Triều mới đây là dịp Giáng Sinh 2003. Hôm đó, 11 anh em của Đội VIII, gồm các Linh mục Nguyễn Quang Đán, Phạm Cao Đích, Đỗ Duy Lạn, và một số anh em từ Lâm Đồng, Bảo Lộc, Dốc Mơ, Túc Trưng, Gia Kiệm, Thủ Đức và Vũng Tầu đã họp lại, picnic và trải qua những phút giây của thuở nào còn vui đùa và học hành chung dưới mái nhà Đệ Tử Viện. Hơn 30 năm xa cách, mình gặp lại Triều, để rồi ai ngờ, đó là lần gặp mặt cuối cùng. Sẽ không bao giờ quên được buổi chiều hôm đó dưới bóng giáo đường xứ Long Bình, và bên ao cá với cây khế sai trái, tất cả 11 anh em cùng ăn gỏi cá, uống rượu đại bổ do Triều khoản đãi, và tiếp tục là bữa cơm chiều bên bãi biển Vũng Tầu, Thánh Lễ tạ ơn ở Trung Tâm Bãi Dâu, và cuộc leo núi tượng đài Chúa Kitô Vua bãi Dâu.
Riêng đối với anh em thân hữu, thì tình cảm ấy còn có một ý nghĩa khác đặc biệt hơn, cách riêng anh em Thân Hữu tại Nam California. Những buổi họp mặt, những tâm tình trao đổi, và những ân cần lo lắng cho nhau như anh em ruột thịt đã làm cho ý nghĩa những ngày tháng xa xưa mãi sống động trong sinh hoạt thường ngày:
Mẹ Đồng Công. Mẹ có thấy các con Mẹ đây đang hiệp nhất với nhau dưới áo choàng của Mẹ? Và Mẹ có thấy những người con ấy đang gắn bó với nhau trong vòng tay yêu thương của Mẹ? Từ mọi chân trời, và từ mọi góc độ sống của dòng đời, chúng con mãi mãi là con Mẹ, là anh em với nhau. Vì qua mầu nhiệm Cứu Độ của Thiên Chúa mà Mẹ đã tham dự cách trọn vẹn, trong đó hình ảnh và đời sống của từng người chúng con cũng đã xuất hiện trong Thượng Trí của Thiên Chúa, điều mà Ngài mang xuống trần trao vào tay Mẹ bằng mầu nhiệm Nhập Thể và Cứu Chuộc. Từ đó, Mẹ cũng là Mẹ từng người và Mẹ của chúng con. Hôm nay, ngồi tưởng nhớ lại những ngày qua, sau khi đã dong duổi quá nửa cuộc hành trình cuộc sống, chúng con thấy rằng Mẹ luôn luôn ở bên chúng con. Điều này nói lên hoài bão của Mẹ là muốn chúng con hiệp nhất với nhau và với Mẹ, bởi vì Mẹ không muốn bất cứ người nào trong chúng con xa khỏi vòng tay từ mẫu của Mẹ hay vượt qua ánh nhìn của Mẹ. Lạy Mẹ Đồng Công, tất cả chúng con đây đều là con của Mẹ, là anh em với nhau. Xin cho sự hiệp nhất giữa chúng con với nhau và hiệp nhất với Mẹ được đi vào những ứng dụng thực hành là tôn trọng và yêu thương lẫn nhau, biết chia vui, sẻ sầu với nhau, và nhất là biết giúp nhau để sống đúng tinh thần Đồng Công mà Mẹ đã một lần nhắn nhủ chúng con khi gọi chúng con vào sống trong Dòng của Mẹ. Lễ Mẹ Đồng Công 2004. |