|
|
| |||
Ngay sau khi Miền Nam Việt Nam sụp đổ, nhiều gia đình sỹ quan và nhân viên chính phủ cũng như các gia đình có liên hệ với chính phủ Hoa Kỳ và nhiều nguòi khác đã chạy ra ngoài nước trong bành hoàng lo sợ. Nhiều nguòi trong chúng ta cũng ở trong số đó. Chúng ta đã bàng hoàng kinh hãi chạy trốn khỏi các vùng hoả chiến hòng thoát khỏi vòng tay của những nguòi lính Cộng Sản. Chúng ta chạy để giữ lấy mạng. Chạy mà chẳng biết mình chạy đi đâu. Một điều chắc chắn là chúng ta chạy để tìm tự do. Chỉ trong vòng một tháng trời, hơn một trăm ngàn nguòi Việt đã chạy thoát ra khỏi nước. Hoàn tỉnh lại thì mới nhận ra là mình đã mất Quê Hương. Chúng ta đã bỏ lại đằng sau quê hương yêu dấu, gia đình, thân nhân và bạn hữu. Chúng ta thật bàng hoàng. Hình ảnh Sài Gòn thất thủ rơi vào tay quân đội Cộng Sản, sự thất bại chính trị, cái đau thương trong cảm nghiệm phải xa lià quê hương, nỗi nhớ nhung và lo lắng cho sự bằng an của gia đình và của những người thân chúng ta bỏ lại đàng sau, một tương lai bất định, tất cả những cảm nghiệm này dồn dập đã trở nên qúa lớn lao để chúng ta có thể diễn tả lại. Khoảng 130,000 người Việt tị nạn đã được tái đinh cư ở Hoa Kỳ. Chúng ta bắt đầu cuộc sống lưu vong. Những danh xưng đã được dùng dể chỉ về chúng ta: Người Việt tị nạn; Người Việt lưu vong; Nguòi Việt Hoa Kỳ; Việt Kiêù; nguòi Mỹ gốc Việt. Chúng ta tự hỏi.
Chúng ta có thể nhận diện cảm nghiệm tị nạn và lưu vong của chúng ta với biến cố của gia Thánh Giuse và Đức Mẹ bồng bế Chúa Giêsu chạy trốn sang Ai Cập. Đức Mẹ, Thánh Giuse, và Chúa Giêsu, chắc chắn hiểu rất rõ và cảm thông với người Việt Nam tị nạn. Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Thánh Giuse và Đức Mẹ biết Con của mình là một con nguòi rất đặc biệt. Ngài là Đấng Cứu Thế. Tuy vậy, Ngài phải chạy trốn Herôđê. Thánh Mathêu đã tường thuật rằng Thiên Thần hiện ra với Giuse trong giấc mơ vào bảo, "Hãy chỗi dạy, đem con trẻ và mẹ Ngài, chạy trốn qua Ai-câp, và ở đó cho tới khi ta báo tin" (Mt 2:13). Quyết định tàn ác của Herôđê tiêu diệt tất cả các con trẻ gợi lại hình ảnh vua Pharaon tiêu diệt các con trẻ Do Thái ở Ai-cập trong Cựu Ước (Ex 1:15-22). Hêrôđê đã hành động như là kẻ thù nghịch với dân Chúa được biểu hiệu nơi Hài Nhi Cứu Thế. Sách Tiên tri Jeremiah 31:15 đã chú trọng đến Ramah, nơi bà Rachel qua đời. Đó cũng chính là nơi mà người Do Thái tụ họp trước khi lên đường đi lưu vong ở Babylon vào thế kỷ thứ sáu. Cuộc tàn sát các hài nhi vô tội là một điển chứng truyền thống lạm dụng quyền hành. Tiên tri Jêrêmiah đã cảm động ghi lại cảm nghiệm mất con của bà mẹ. Rachel khóc bởi vì bà đã sinh con. Bà khóc vì sự lưu vong của các con của bà là Giuse và Benjamin. Cũng thế, chúng ta khóc bởi vì nhiều anh chị em đồng bào của chúng ta đã bị chết trong loạn lạc, trong lao tù cải tạo, và trong hoàn cảnh thay đồi vận mệnh của dất nuóc. Nhiều cha mẹ khóc vì con mình đã chết trận, chết trên đường vượt biên, hay chết vì không chịu nổi khắc nghiệt của lao tù. Nhiều người vợ đã khóc ròng vì phải tiễn chồng ra đi cải tạo. Khi Thánh Giuse và Đức Mẹ nhận được lệnh của Thiên Thần báo tin, các ngài đã mau mắn rời khỏi Belem để lên đường trốn sang Ai-cập. Các ngài đã không đặt câu hỏi. Thánh Giuse, Đức Mẹ và Chúa Giêsu hài đồng đã chạy trốn bạo quyền Hêrôđê. Biến cố tháng Tư năm 1975, chúng ta cũng đã chạy trốn trong lo sợ bởi sự đe dọa của quân đội Cộng Sản Việt Nam. Để bảo toàn mạng sống cho Chúa Giêsu, giữa đêm khuya giá lạnh, thánh Giuse đã phải chỗi dạy, mang Chúa Giêsu và Mẹ của ngài đi Ai-Cập. Để bảo vệ cho gia đình khỏi áp chế của Cộng Sản, chúng ta đã đưa gia đình trốn khỏi Việt Nam và định cử ở Hoa Kỳ. Thánh Giuse, Đức Mẹ và Chúa Giêsu đã một gia đình tỵ nạn bên Ai-cập. Ngày nay chúng ta là những gia đình tị nạn ở Hoa Kỳ. Cuộc hành trình từ Belem tới Ai-cập là một cuộc hành trình dài hơn một trăm dặm đường bộ, gập ghềnh sỏi đá và nguy hiểm. Không có xe bus, không có xe hơi, không có máy bay. Gia đình thánh gia chỉ có một con lừa. Thực phẩm và nước uống thì hiếm hoi. Các ngài cũng chẳng quen biết ai ở Ai-cập cũng chẳng biết nói tiếng Ai-cập. Làm sao các ngài có thể tìm được việc làm để nuôi sống gia đình? Khi yếu đau bệnh hoạn thì làm sao biết đường đi bác sỹ và mua thuốc? Làm sao các ngài có tiền để gởi con đến truòng đi học? Các ngài tìm đâu ra đền thờ để có thể đến mà cầu nguyện và dâng lễ tế lên Thiên Chúa? Đức Mẹ và thánh Giuse có thể đặt nghi vấn, "Tại sao Chúa Giêsu, Con Đấng Tối Cao, lại phải chạy trốn một ông vua nhân loại độc ác như Hêrôđê? Một cách nào đó, các ngài đã có thể vượt qua được. Rồi một hôm, Thiên Thần của Chúa lại hiện ra với Giuse trong giấc mơ mà bảo, "Hãy chỗi dạy đem con trẻ và hài nhi trở về Israel, vì kẻ tìm giết con trẻ nay không còn nữa" (Mt 2:20).
Người Việt Lưu Vong
Cho dù gặp nhiều khó khăn, vất vả, và phải đối diện với cả sự kỳ thị, người Việt chúng ta đã cần cù làm việc và chịu khó học hỏi để có thể đạt được tình trạng ổn định như ngày hôm nay. Với sự chịu khó, với mồ hôi và nước mắt, chúng ta đã thành công trong việc tái thiết đời sống ở Hoa Kỳ. Suy nghĩ đi suy nghĩ lại. Nhiều nguòi đặt vấn đề:
Ý Chúa Nhiệm Mầu
Rồi một hôm, không may co ngựa chạy đi mất. Dân làng lại kéo đến chia buồn, "Sao ông lại sui sẻo vô phước như thế!" Người nông dân lại trả lời, "Tôi sẵn lòng chấp nhận ý định của Thiên Chúa." Ít ngày sau, con ngựa đó lại dẫn về thêm một con ngựa bạn. Xóm làng lại kéo đến chia vui. "Ồ bây giờ không ngờ ông lại may mắn có phước được thêm một con ngựa nữa." Người nông dân lại trả lời, "Tôi tin rằng chỉ có Chúa biết phước hay là không." Một hôm, người con trai của ông muốn chia cách hai con ngựa ra và bắt con ngựa mới làm việc ngoài nông trại. Trong khi đang cưỡi con ngựa đó thì nó đã hất anh ta té nhào xuống đất và gẫy một cẳng khiến anh trở nên tàn phế què một chân. Dân làng lại kéo đến chia buồn. "Thật là bất hạnh. Bây giờ con ông đang lành lặn trở nên què cả đời." Người nông dân lại trả lời, "Chỉ có Chúa biết lý do tại sao!" Nhiều ngày trôi qua và một hôm có đoàn lính kéo đến thôn làng theo lệnh vua bắt tất cả các chàng trai trẻ đi quân dịch, trừ có một người con què chân của người nông dân. Cả làng lại kéo tới chúc mừng vì ông còn giữ được con ở nhà không phải đi lính. Họ nói với ông, "Thật ông nói đúng. Chỉ Chúa mới biết cái gì có phước cái gì không." Chúng ta đã được cơ hội thoát không phải sống dưới chế độ Cộng Sản ở Việt Nam. Chúng ta đang sống ở Hoa Kỳ. Chúng ta đã tạm ổn định cuộc sống. Chúng ta đang hường tự do. Chúng ta có nhiều cơ hội để thăng tiến trong nhiều lãnh vực. Con cái chúng ta có dư cơ hội để học hành và trau dổi nhiều khả năng khác nhau. Tất cả là hồng ân cho chúng ta. Hồng ân phải đi với trách nhiệm. Như thế trách nhiệm của chúng ta là gì? Thiên Chúa muốn uỷ thác sứ vụ gì cho người Công Giáo Việt Nam Hoa Kỳ chúng ta? L.M. Gioan Trần Đình Khả |